Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2018

Bệnh Viêm Phế quản

Viêm phế quản cấp là bệnh gì?



Mẹo chữa điều trị: viem phe quan co that
Viêm phế quản cấp là tình trạng bị viêm và sưng ở ống phế quản trong phổi. Bệnh còn được gọi là cảm lạnh ngực. Có hai dạng viêm phế quản cấp:

Viêm phế quản cấp tính: bệnh thường được cải thiện trong vài ngày, mặc dù cơn ho có thể tiếp tục kéo dài tới cả tuần;
Viêm phế quản mãn tính: bệnh lặp đi lặp lại nhiều lần và là một trong những nguy cơ dẫn đến bệnh phổi tắc nghẽn phổi mãn tính (chronic obstructive pulmonary disease- COPD).
Triệu chứng thường gặp
Những dấu hiệu và triệu chứng của viêm phế quản cấp là gì?
Đối với viêm phế quản cấp tính hoặc mãn tính, dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm:

Cổ họng có đờm, đờm màu trong, màu trắng, màu xám vàng hoặc màu xanh lục;
Khó thở, đặc biệt khi phải gắng sức làm việc gì đó;
Thở khò khè;
Mệt mỏi;
Sốt và ớn lạnh;
Tức ngực.
Tuy nhiên, các triệu chứng rất khó để nhận biết. Đờm có khi không xuất hiện khi mắc viêm phế quản và trẻ em thường nuốt đờm, do đó cha mẹ có thể không biết con mình đã mắc bệnh. Nếu hút thuốc, cổ họng của bạn mỗi buổi sáng khi thức dậy thường có đờm. Trong trường hợp tình trạng này kéo dài trong hơn ba tháng, bạn có thể bị viêm phế quản mãn tính. Bạn vẫn có khả năng mắc viêm phế quản mãn tính dù không hề bị viêm phế quản cấp tính. Ngoài ra, bạn có thể ho dai dẳng kéo dài trong vài tuần sau khi khỏi viêm phế quản cấp tính.

Bạn có thể gặp các triệu chứng khác được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ.

Khi nào bạn cần gặp bác sĩ?
Bạn nên đi khám bác sĩ nếu:

Cơn ho kéo dài hơn ba tuần, khiến bạn không thể ngủ;
Sốt cao hơn 38oC;
Đờm bị đổi màu;
Ho ra máu;
Thở khò khè hoặc khó thở.
Nguyên nhân gây bệnh
Nguyên nhân nào gây ra viêm phế quản cấp?
Nguyên nhân thường gặp là do virus, bệnh thường xảy ra sau các triệu chứng cảm lạnh hay cảm cúm. Các nguyên nhân khác bao gồm nhiễm trùng, nhiễm hóa chất, hơi, bụi hay các chất ô nhiễm khác khiến đường phế quản bị kích ứng. Người hút thuốc và những người có các vấn đề về phổi, như viêm phế quản mãn tính, hen suyễn hay xơ nang có khả năng cao mắc bệnh viêm phế quản cấp.

Nguy cơ mắc phải
Những ai thường bị viêm phế quản cấp?
Viêm phế quản cấp là một căn bệnh về đường hô hấp thường gặp nhất. Tỷ lệ mắc bệnh của cả nam lẫn nữ là bằng nhau. Bệnh có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào. Bạn có thể hạn chế khả năng mắc bệnh bằng cách giảm thiểu các yếu tố nguy cơ. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ để biết thêm thông tin.


>> Những dấu hiệu căn bệnh khó chịu: benh hen

Những yếu tố nào làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm phế quản cấp?
Các yếu tố làm tăng nguy cơ của viêm phế quản bao gồm:

Khói thuốc lá: nếu bạn hút thuốc hoặc sống với người hút thuốc, bạn có nguy cơ cao hơn mắc phải bệnh viêm phế quản cấp tính và viêm phế quản mãn tính;
Sức đề kháng thấp: điều này có thể là hậu quả của bệnh cấp tính như cảm lạnh hoặc từ một tình trạng bệnh mãn tính khiến hệ thống miễn dịch của bạn bị tổn hại. Người lớn tuổi, em bé dưới 12 tháng tuổi và trẻ nhỏ rất dễ bị nhiễm trùng đường phế quản do có sức đề kháng yếu;
Tiếp xúc với hóa chất trong công việc: nguy cơ mắc viêm phế quản cao hơn nếu bạn làm việc xung quanh một số chất gây kích ứng phổi như các loại hạt hay vải dệt, hoặc đang tiếp xúc với hơi hóa chất;
Trào ngược dạ dày: các đợt ợ nóng nghiêm trọng có thể gây kích thích cổ họng của bạn và làm cho bạn dễ mắc bệnh viêm phế quản.
Điều trị hiệu quả
Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ.

Những kỹ thuật y tế nào dùng để chẩn đoán viêm phế quản cấp?
Bác sĩ sẽ hỏi về các triệu chứng, khám lâm sàng và nghe phổi với ống nghe. Đối với các trường hợp bệnh kéo dài hay các triệu chứng nghiêm trọng, bác sĩ có thể yêu cầu chụp X-quang ngực để loại trừ các bệnh lý nghiêm trọng hơn như viêm phổi.

Những phương pháp nào dùng để điều trị viêm phế quản cấp?
Mục tiêu của điều trị bệnh viêm phế quản là giảm triệu chứng và làm cho bệnh nhân dễ thở, để hỗ trợ điều trị bệnh, bạn nên:

Uống nhiều nước;
Thở không khí ấm và ẩm;
Uống thuốc giảm triệu chứng ho và acetaminophen hoặc aspirin.
Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể kê các thuốc như:

Thuốc kháng sinh: viêm phế quản thường là kết quả sau khi bị nhiễm virus, do đó kháng sinh không hiệu quả. Tuy nhiên, bác sĩ có thể kê toa thuốc kháng sinh nếu nghi ngờ có nhiễm trùng vi khuẩn. Trong trường hợp bạn có rối loạn phổi mãn tính hoặc hút thuốc, thuốc kháng sinh có thể giảm nguy cơ nhiễm trùng thứ phát nghiêm trọng;
Thuốc ho: ho giúp loại bỏ các chất kích thích từ phổi. Nếu ho khi ngủ, bạn nên sử dụng thuốc ho không kê đơn một lượng vừa phải để có thể ngủ, nhưng thuốc này không đủ để ngăn chặn ho hoàn toàn. Nếu cơn ho khiến bạn mất ngủ, bác sĩ có thể đề nghị thuốc ho loại được kê toa;
Các thuốc khác: nếu có bệnh hen hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), bác sĩ có thể khuyên bạn dùng các thuốc xịt và các thuốc khác để giảm viêm và mở đoạn thu hẹp phế quản.
Nếu mặc bệnh viêm phế quản mãn tính, bạn nên nói chuyện với bác sĩ về khả năng phục hồi chức năng phổi. Phục hồi chức năng phổi là một chương trình tập luyện thở, làm việc với một bác sĩ chuyên khoa hô hấp để giúp học cách hít thở dễ dàng hơn và tăng khả năng tập thể dục.

Chế độ sinh hoạt phù hợp
Những thói quen sinh hoạt nào giúp bạn hạn chế diễn tiến của viêm phế quản cấp?
Bên cạnh các phương pháp điều trị cơ bản, những lưu ý dưới đây có thể giúp bạn thoải mái hơn cũng như tăng khả năng hồi phục và ngăn ngừa các biến chứng của viêm phế quản cấp tính, đồng thời giúp kiểm soát các triệu chứng của viêm phế quản mãn tính. Những lưu ý bao gồm:

Tránh tiếp xúc với chất kích thích, chẳng hạn như khói thuốc lá. Không hút thuốc. Mang khẩu trang khi không khí bị ô nhiễm hoặc nếu phải tiếp xúc với chất kích thích, chẳng hạn như sơn hay chất tẩy rửa gia dụng với hơi mạnh;
Sử dụng máy tạo độ ẩm trong phòng. Không khí ấm áp và ẩm giúp giảm ho cũng như làm lỏng chất nhờn ở đường hô hấp. Tuy nhiên, bạn nên làm sạch máy làm ẩm theo khuyến nghị của nhà sản xuất để tránh sự phát triển của vi khuẩn và nấm trong ngăn chứa nước;
Uống thuốc để giảm đau và hạ sốt, nên dùng acetaminophen và ibuprofen;
Nếu không khí lạnh làm cho ho càng trầm trọng và khó thở, bạn nên dùng khẩu trang trước khi đi ra ngoài;
Hãy thử mím môi, chỉ chừa một khoảng nhỏ ở miệng và thở. Nếu bị viêm phế quản mãn tính, bạn có thể thở quá nhanh. Thở mím môi giúp làm chậm hơi thở, và bạn có thể cảm thấy tốt hơn. Hãy hít thở sâu sau đó từ từ thở ra qua miệng trong khi mím môi. Lặp lại kỹ thuật này sẽ giúp làm tăng áp suất không khí trong đường hô hấp của bạn.
Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất.


Mẹo nhỏ cho bạn: bệnh hen phế quản
Xem chi tiết ...

Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018

Mẹo chữa viêm họng "siêu tốc" không cần đến thuốc

Bệnh nhân suýt chết do đũa ăn cơm đâm thủng ruột non
Nên Xem: Viêm phế quản co thắt

Sáng 7-2, tin từ Bệnh viện Đa Khoa (BVĐK) Hoàn Mỹ Cửu Long cho biết sức khỏe của bệnh nhân T.V.H. đang hồi phục tốt, hiện đang tiếp tục theo dõi tại khoa tiêu hóa của bệnh viện.
 
Trước đó, vào lúc 5 giờ ngày 5-2, bệnh nhân H. (sinh năm 1976, ngụ tại Sóc Trăng) nhập viện cấp cứu tại BVĐK Hoàn Mỹ Cửu Long trong tình trạng bị cây đũa ăn cơm đâm vào hông bên trái, gây vết thương sâu với một phần của đầu đũa dài khoảng hơn 3 cm vẫn còn kẹt trong bụng.

Sau khi được thăm khám và chẩn đoán, bệnh nhân được chuyển vào phòng mổ cấp cứu lúc 8 giờ cùng ngày.

Ths.BS Huỳnh Huy Cường thăm khám cho bệnh nhân H. sau phẫu thuật. Ảnh: PHƯƠNG CHI

Qua nội soi thám sát, phát hiện dị vật đã đâm xuyên hỗng tràng gây thủng 2 lỗ kích thước 0,8 cm, lỗ hổng cách gốc tá hỗng tràng 15 cm, đoạn dị vật bị gãy dính lại vào phúc mạc thành bụng sau, trong bụng có dịch máu và dịch tiêu hóa.

Ê-kíp mổ đã nhanh chóng khâu lỗ thủng ruột non, lấy dị vật ra và đặt ống dẫn lưu ổ bụng để theo dõi sau mổ và dẫn lưu những phần dịch tồn đọng ra ngoài. Ca phẫu thuật được thực hiện trong 2 giờ đồng hồ và thực hiện qua hình thức phẫu thuật nội soi.

Ths.BS Huỳnh Huy Cường - Khoa Ngoại Tiêu hóa của BVĐK Hoàn Mỹ Cửu Long - cho biết đây là phương pháp tối ưu cho bệnh nhân.

Trong phẫu thuật nội soi, một chiếc camera đặc biệt được gọi là ống soi, cùng với dụng cụ phẫu thuật chuyên biệt sẽ được đưa vào ổ bụng thông qua các đường rạch nhỏ để thực hiện phẫu thuật.

So với mổ hở, phương pháp này có thể giảm đến 3-5 ngày nằm viện, vết mổ nhỏ, mau hồi phục. Cũng theo BS Huy Cường, nếu không điều trị kịp thời, lỗ thủng ruột non cùng với dị vật trong ổ bụng sẽ gây nhiễm trùng nặng do viêm phúc mạc, có thể dẫn đến tử vong.



Bài thuốc dân gian: viêm phế quản
Xem chi tiết ...

Thứ Sáu, 19 tháng 1, 2018

Bài thuốc chữa bệnh đâu lưng bằng muối hạt

Cách chữa đau lưng bằng muối nhanh chóng và hiệu quả. Mẹo chườm muối nóng giảm đau lưng đã được ông cha ta áp dụng từ lâu đời nhưng không phải ai cũng biết đến mẹo hay này. Muối hạt trị đau lưng vừa rẻ tiền, vừa tiện lợi có thể áp dụng ngay tại nhà. Nếu thực hiện đúng cách thì chỉ sau vài lần là bệnh nhân có thể dứt cơn đau lưng mà không cần sử dụng đến bất kì một viên thuốc nào.

 Bài thuốc hay: Viêm phế quản co thắt

Lưu ý khi chữa đau lưng bằng muối hạt
Để phát huy hết tính hiệu quả của phương pháp chườm muối nóng giảm đau thì bệnh nhân cần lưu ý một số yếu tố để tác dụng của muối được phát huy một cách tối đa nhất.

Muối cần được rang nóng vừa phải không quá cháy
Loại muối được chọn phải là muối hạt nguyên chất
Sử dụng tấm vải bọc không quá dày để có thể tản nhiệt tốt
Chườm đều quanh điểm đau, không để quá lâu ở một vị trí

Cách chườm muối giảm đau lưng
So sánh với các phương pháp khác thì việc dùng muối hột chữa đau lưng không chỉ có giá trị về kinh tế, hiệu quả mà quan trọng hơn hết những thành phần của muối hột khi được chườm nóng sẽ giúp cơn đau lưng giảm một cách từ từ đến khi hết hẳn.

Bản chất của cơn đau được điều trị tận gốc sẽ giúp phần phòng tránh và ngăn ngừa tình trạng đau lưng quay lại, đây là một yếu tố hết sức quan trọng với những bệnh nhân hay gặp phải những cơn đau thường xuyên do việc phải lao động, di chuyển, bê vác… hàng ngày. Cách thực hiện biện pháp chườm muối giảm đau cũng khá đơn giản:

Bước 1: Chọn khoảng 200 - 300 g muối hạt tự nhiên nguyên chất hạt to (không nên dùng muối có gia giảm các thành phần khác) và một miếng vải sạch mỏng.
Bước 2: Đem muối rang nóng ở lửa nhỏ, đảo đều muối để hạt muối có thể nóng đều khoảng từ 5 - 10 phút, quan sát thấy muốn săn và khô lại, độ nóng vừa phải thì đổ ra miếng vải và buộc chặt lại.
Bước 3: Chườm đều quanh vị trí đau của bệnh nhân sau đó có thể lan rộng ra cả lưng, mỗi lần chườm khoảng từ 10 - 15 phút đến khi thấy nguội thì thôi. Ngày thực hiện chườm từ 2 - 3 lần vào buổi sáng và trước khi đi ngủ hoặc những lúc đau có thể chườm bổ sung.
Thực hiện chườm muối hột nóng trị đau lưng từ 3 - 5 ngày là bệnh nhân sẽ giảm thấy giảm đau vùng thắt lưng một cách rõ rệt, thậm chí là khỏi hẳn. Chườm muối nóng giảm đau không những là một giải pháp an toàn, rẻ tiền được các bác sĩ khuyên dùng mà trên hết đây còn là một mẹo cực kì hiệu quả, rễ thực hiện có thể áp dụng tại nhà cho tất cả mọi người.

 Làm thế nào để: Viêm phế quản co thắt

Xem chi tiết ...

Thứ Năm, 18 tháng 1, 2018

Làm gì để phòng ngừa đề kháng kháng sinh nếu bị hen suyễn không?

Làm gì để phòng ngừa đề kháng kháng sinh?
>>> Xem thêm các thảo luận cùng chủ đề: hen trẻ em

Option 1: Làm gì để phòng ngừa đề kháng kháng sinh?
Option 2: Viễn cảnh khó lường của đề kháng kháng sinh cần sự chung tay của đội ngũ y tế
Option 3: Đề kháng kháng sinh - hành động ngay bây giờ hoặc không bao giờ
Viễn cảnh quay trở lại thời kì chưa có kháng sinh khi các vết thương nhỏ như đứt tay, trầy xước, hay các nhiễm trùng thông thường cũng có thể dễ dàng cướp đi sinh mạng con người, đang đặt ra thách thức lớn cho ngành y tế: hành động ngay bây giờ hay không bao giờ còn kịp nữa!
Sự "xâm lược" của những vi khuẩn ngày càng thông minh hơn
Đề kháng kháng sinh là vấn đề không còn quá mới khi thế giới đang ngày ngày chứng kiến hậu quả đáng sợ của nó: hàng trăm nghìn người chết mỗi năm và phải chi hàng trăm tỷ USD để kiểm soát đề kháng thuốc. Tuy nhiên không phải ai cũng thật sự hiểu về vấn nạn toàn cầu này.
Theo PGS. TS. BS Trần Văn Ngọc - Chủ tịch Hội Hô hấp TP.HCM, cơ chế của đề kháng kháng sinh có thể được hiểu đơn giản như sau: khi người bệnh sử dụng kháng sinh, thuốc sẽ tiêu diệt tất cả các loại vi khuẩn, trừ một số loại có khả năng kháng thuốc do có gene đột biến và ngày càng thông minh hơn nên có thể vô hiệu hóa cơ chế hoạt động của kháng sinh. Những vi khuẩn kháng thuốc này tiếp tục phát triển, nhân lên, phát tán và lây nhiễm những người khác như một cuộc "xâm lược" ồ ạt của quần thể kháng kháng sinh khiến thuốc kháng sinh dần mất tác dụng, gây ra tình trạng đề kháng thuốc.
Vi khuẩn đang ngày một "tinh vi", phát triển nhanh hơn so với kháng sinh
Kê kháng sinh khi không cần thiết và bệnh nhân không tuân thủ điều trị là hai nguyên nhân hàng đầu của đề kháng kháng sinh. Ngoài ra cũng phải kể đến các nguyên nhân khác cũng quan trọng không kém như lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi, hệ thống vệ sinh yếu kém, kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện và phòng khám chưa tốt, chưa có kháng sinh mới.
Ngăn đề kháng kháng sinh - sứ mệnh khẩn của ngành y tế
Trong bối cảnh tỷ lệ tử vong do các bệnh truyền nhiễm trong vòng 5 năm gần đây tại Việt Nam tăng khá cao (30% tử vong tại các cơ sở y tế công lập)[1], việc kiểm soát và ngăn chặn đề kháng kháng sinh trở nên bức bách và cần hành động ngay. Để có được hiệu quả ngăn chặn tối ưu, cần rất nhiều nỗ lực từ phía ngành y tế, và đội ngũ chăm sóc y tế từ khâu kê toa, theo dõi tương tác thuốc, đến nâng cao nhận thức của bệnh nhân.
Đối với y bác sĩ, cần tuân thủ 8 nguyên tắc kê toa[2], trong đó đáng chú ý nhất là: chỉ kê toa kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn, tối ưu hóa dược lâm sàng khi kê toa, và khuyến khích bệnh nhân tuân thủ điều trị. Việc tìm ra đúng tác nhân gây bệnh trở thành vấn đề mấu chốt trong việc quyết định chọn kháng sinh phù hợp, hoặc phối hợp các kháng sinh hợp lý, trong đó nhất thiết phải chú ý giữ gìn kháng sinh cũ, những kháng sinh còn hiệu quả nhất định theo phác đồ điều trị. Về phía các dược sĩ cần lưu ý về cảnh giác dược, tương tác thuốc, và quản lý sử dụng thuốc nhằm hạn chế tối đa các trường hợp phản ứng có hại của thuốc, đảm bảo "4 chữ Đ" trong lựa chọn kháng sinh là: đúng thuốc, đủ liều, đủ thời gian và đúng cách.
Nghiên cứu và phát triển kháng sinh mới bên cạnh tìm kiếm các giải pháp thay thế cần được tiếp tục không ngừng
Mặt khác, bên cạnh hướng đi truyền thống là nghiên cứu kháng sinh mới, các công ty dược phẩm hiện nay cũng đang tìm kiếm các giải pháp hỗ trợ hoặc thay thế để hạn chế phụ thuộc vào kháng sinh. Chẳng hạn như bên cạnh các nỗ lực điều chế vắc-xin mới nhằm bảo vệ cộng đồng trước các tác nhân gây bệnh, phải kể đến sáng kiến về Khảo sát đề kháng kháng sinh (SOAR) mà tập đoàn GSK đang thực hiện tại nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới nhằm đo lường độ nhạy cảm của các tác nhân vi khuẩn gây nhiễm khuẩn đường hô hấp mắc phải trong cộng đồng, đánh giá về hiệu quả của kháng sinh trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp, hỗ trợ phát triển các phác đồ điều trị mới có hiệu quả hơn, đồng thời nâng cao ý thức của giới y tế và khuyến khích sự tuân thủ tốt hơn với các nguyên tắc chỉ định/sử dụng kháng sinh hợp lý trong hệ thống chăm sóc sức khỏe và cộng đồng.
Xem chi tiết ...

Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2018

Điều trị bệnh hen suyễn không dùng thuốc

Trẻ bị ho lâu ngày không khỏi phải làm sao Cứ mỗi dịp thời tiết thay đổi, đang nắng bỗng đổ mưa rào, thời tiết khắc nghiệt đầu hè như hiện tại nhiều bà mẹ rồng rắn cả con tới bệnh viện khám "cháu bị ho lâu ngày, cả tháng rồi mà vẫn không khỏi".
Trẻ bị ho lâu ngày không khỏi bệnh phổi tắc nghẽn


Trẻ bị ho lâu ngày có thể do dị ứng thời tiết
Theo các bác sỹ Bệnh viện Nhi, trẻ bị ho lâu ngày rất hay gặp khi thời tiết chuyển mùa. Cứ mỗi đợt nắng nóng kéo dài rồi lại có những cơn mưa rào bất chợt, số lượng bệnh nhi được đưa tới khám tăng lên chóng mặt với tình trạng chung bị ho lâu ngày mãi mà không khỏi, mặc dù các mẹ đã cho trẻ uống siro ho, cả kháng sinh, kháng viêm mà trẻ vẫn cứ ho sù sụ, liên tục không giảm. Tuy nhiên, trẻ chỉ có dấu hiệu ho chứ không viêm nhiễm hay có biểu hiện sốt, co giật nào.

Chia sẻ về nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, các chuyên gia y tế cho rằng, thời gian chuyển mùa, thời tiết thất thường thay đổi đột ngột từ nóng sang lạnh rồi từ lạnh sang nóng, trong vài ngày thậm chí từ sáng tới chiều ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ. Ở những trẻ dưới 3 tuổi, hệ hô hấp còn non yếu cộng thêm với sức đề kháng cũng kém là đối tượng dễ phản ứng với điều kiện thời tiết thất thường và có thể dẫn tới biểu hiện rõ rệt nhất là ho ở trẻ em.

Trẻ bị ho dị ứng thường ho thành cơn, thậm chí là ho lâu ngày không khỏi, các cơn ho liên tục không dứt, nhất là trước khi đi ngủ và sau khi ngủ dậy hay lúc chuyển tư thế từ nằm sang ngồi hoặc ngược lại. Khác với ho do viêm nhiễm, trẻ có thêm biểu hiện sốt, ho có đờm đục, đờm xanh, trẻ ho do bị kích ứng thời tiết thường có rất nhiều đờm nhưng là đờm trong, trẻ không bị sốt và khi đưa trẻ đi xét nghiệm, bạch cầu không tăng.

Điều trị ho do dị ứng thời tiết như thế nào?
Hỏi về lời khuyên cho những trường hợp trẻ bị ho lâu ngày không khỏi (ho do dị ứng thời tiết) các bác sỹ khuyên rằng, trẻ cần được điều trị bằng thuốc dị ứng, thuốc giảm tiết chảy nước mũi, thuốc giảm mẫn cảm kết hợp với thuốc trị ho. Các mẹ cần đặc biệt chú ý không nên tự ý dùng kháng sinh cho con, cũng không nên lạm dụng siro ho cho bé. Như vậy tuy không nguy hiểm nhưng nếu không biết chăm sóc đúng cách trẻ bị ho do dị ứng rất có thể bị bội nhiễm, dẫn đến cá viêm nhiễm đường hô hấp mà tình trạng ho ở trẻ lâu khỏi hơn.

Khi trẻ bị ho thường có nhiều đờm nên các mẹ cần làm cho trẻ sổ được đờm ra. Có thể sử dụng các loại thuốc ho long đờm hay bằng vỗ rung. Nếu mẹ nào còn chưa biết cách vỗ rung có thể áp dụng theo chỉ dẫn. "Mẹ khum bàn tay lại rồi vỗ đều vào vùng lưng bé, phần giữa hai bả vai, làm nhịp nhàng liên tục và nên để bé nằm hoặc ngồi với tư thế đầu hơi dốc xuống." Làm như vậy trẻ có thể sẽ ho nhiều và nôn, khạc ra đờm nên cần làm lúc trẻ đói, tốt nhất là buổi sáng khi trre mới ngủ dậy và chưa ăn gì.

Với những trẻ không tự khạc được đờm, mẹ có thể kích thích cho bé nôn, các mẹ có thể dùng khăn mỏng sạch lau nhẹ nhàng khoang miệng, lưỡi, kích thích nhẹ vào họng….

Cách phòng ngừa ho do dị ứng thời tiết?
Để phòng ngừa, các mẹ cần chú ý chăm sóc vệ sinh mũi họng thường xuyên cho bé,cho trẻ xúc miệng và rửa mũi bằng các loại nước muối sinh lý, cho trẻ ăn uống đủ chất, dinh dưỡng hợp lý. Khi bé bị ho mà không kèm các dấu hiệu sốt, mệt mỏi, có thể cho trẻ uống thuốc ho long đờm, và cần chú ý xem liệu có phải do trẻ dị ứng với một loại thức ăn nào đó không để loại hẳn khỏi thực đơn của bé. Tuy nhiên, các mẹ cũng nên tham khảo ý kiến của các bác sỹ hoặc người có chuyên môn trước khi sử dụng thuốc nhé.

Chia sẻ cho bạn bài thuốc: viêm phế quản
Xem chi tiết ...

Thứ Năm, 11 tháng 1, 2018

Hướng dẫn điều trị suyễn nặng năm 2013 của Hội Hô Hấp Châu Âu và Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ

Hướng dẫn điều trị suyễn nặng năm 2013 của Hội Hô Hấp Châu Âu và Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ (ERS/ATS)
>> Các thảo luận cùng chủ đề: Điều trị phổi tắc nghẽn mãn tính


1. Suyễn nặng là gì?
Suyễn nặng (severe asthma) là nhóm bệnh suyễn mới được xác định vào đầu những năm 2000. Hướng dẫn ERS/ATS định nghĩa suyễn nặng là suyễn cần phải sử dụng hai loại thuốc kiểm soát, thay vì một như thông thường, hoặc là suyễn vẫn tiếp tục không kiểm soát dù sử dụng thuốc mức độ cao như vậy.
Suyễn nặng bao gồm nhiều kiểu hình (phenotype) khác nhau.
Các đặc điểm gen, tế bào và mô trong đường thở của bệnh nhân, chức năng phổi và các triệu chứng đã được đánh giá ở các bệnh nhân có suyễn nặng.
Những đánh giá này cần được tiến hành với các quần thể lớn để giúp các chuyên gia hiểu được các loại suyễn nặng khác nhau. Khi những loại kiểu hình này đã được xác định, các chuyên gia sẽ chọn liệu pháp phù hợp với từng bệnh nhân dễ dàng hơn.
2. Suyễn nặng được chẩn đoán như thế nào?
Cần tiến hành ba bước để chẩn đoán suyễn nặng:
2.1. Xác định bệnh nhân có bị suyễn hay không
Để chẩn đoán suyễn, các bác sĩ cần đánh giá các triệu chứng của bệnh nhân, bao gồm cảm giác nặng ngực, khò khè, khó thở và thức giấc thường xuyên trong đêm. Bất kỳ yếu tố kích phát nào, thí dụ như các yếu tố môi trường (bụi, phấn hoa, nước hoa) hoặc các yếu tố nghề nghiệp (hóa chất, bụi nơi làm việc) có thể khiến triệu chứng trở nặng cũng phải được xem xét.
Hướng dẫn ERS/ATS đề nghị CT có độ phân giải cao nếu bệnh nhân có các triệu chứng không điển hình, ví dụ như suyễn không gây ra triệu chứng khò khè thường gặp. Nếu bệnh nhân bị suyễn, CT sẽ cho thấy cấu trúc bất thường hoặc viêm trong phổi.
2.2. Xác định tại sao suyễn lại khó điều trị
Một số bệnh nhân bị suyễn khó kiểm soát. Trong trường hợp này, bác sĩ cần xét đến một số yếu tố, thí dụ như điều trị dị ứng hoặc các bệnh lý đi kèm, kỹ thuật hít thuốc hoặc lối sống (thực đơn, thể dục thể thao, hút thuốc lá) để cố gắng giúp đỡ bệnh nhân kiểm soát được các triệu chứng. Nếu tất cả các yếu tố này đã được xử trí mà người bệnh vẫn có các triệu chứng suyễn thì nên chẩn đoán suyễn nặng.
2.3. Xác định loại suyễn nặng
Các loại suyễn nặng khác nhau đáp ứng khác nhau với những điều trị hiện có. Điều quan trọng là thử xác định loại suyễn nặng mà bệnh nhân mắc phải. Hiện không có một định nghĩa phổ biến, nhưng có thể phân ra ba loại:
+ Suyễn nặng khởi phát từ lúc là trẻ em với các triệu chứng kích phát do dị ứng, gọi là loại dị ứng khởi phát sớm.
+ Suyễn nặng khởi phát lúc đã trưởng thành và đi kèm với béo phì, gọi là loại béo phì khởi phát muộn.
+ Suyễn nặng khởi phát lúc đã trưởng thành và có đặc điểm bạch cầu ái toan cao, gọi là loại ái toan khởi phát muộn.
Do ba nhóm này không bao gồm đầy đủ các loại suyễn nặng khác nhau, các nỗ lực nghiên cứu hiện đang tập trung vào việc định nghĩa rõ ràng hơn để dễ cá nhân hóa việc điều trị và dễ điều chỉnh hơn trong tương lai.
3. Suyễn nặng nên được điều trị như thế nào?
3.1. Sử dụng các thuốc hiện có
Có một số thuốc được phép điều trị suyễn nhẹ hoặc trung bình, nhưng không phải tất cả đều hữu hiệu đối với suyễn nặng. Hướng dẫn ERS/ATS bàn luận những liệu pháp đã có và mức độ hữu hiệu của chúng trong điều trị suyễn nặng. Các khuyến cáo của họ được tóm tắt dưới đây. Bác sĩ nên thảo luận từng liệu pháp với từng bệnh nhân, bao gồm những ưu và khuyết điểm, để giúp xác định phương pháp điều trị tốt nhất.
3.1.1. Corticosteroid
Corticosteroid là một nhóm thuốc được dùng để điều trị suyễn. Suyễn nặng được định nghĩa là suyễn không đáp ứng với liều thông thường của corticosteroid. Điều này không có nghĩa là corticosteroid hoàn toàn không có hiệu quả, mà kém hiệu quả đối với người suyễn nặng và cần sử dụng liều cao hơn.
Khi corticosteroid được hít vào, chúng vào phổi trực tiếp để làm giảm viêm và phù nề. Khi người suyễn nhẹ và trung bình sử dụng đều đặn, chúng giúp ngăn chận đợt kịch phát suyễn. Có lẽ cần phải sử dụng corticosteroid hít liều cao hơn để điều trị suyễn nặng.
Một báo cáo khác đề nghị rằng liều thông thường corticosteroid hít được nhân gấp bốn lần để điều trị có hiệu quả các đợt kịch phát ở suyễn nhẹ và trung bình; tuy nhiên, điều này không thực tế đối với người suyễn nặng vốn đã sử dụng liều cao.
Corticosteroid uống mạnh hơn corticosteroid hít. Do đó, chúng thường được cho thêm vào liệu pháp corticosteroid hít duy trì thông thường để điều trị những đợt kịch phát suyễn nặng. Thời điểm cho thêm hiện không rõ ràng và hiện chưa biết nên duy trì liều điều trị thấp thời gian dài hay nên sử dụng liều cao hơn từng đợt đều đặn để kiểm soát cơn kịch phát.
Corticosteroid dạng uống di chuyển đến tất cả bộ phận trong cơ thể, do đó có thể có một số tác dụng phụ khi sử dụng liều cao, như nguy cơ cao bị gãy xương, hạn chế tăng trưởng ở trẻ em và tăng cân. Do đó, điều quan trọng là thăm khám đều đặn để được nhân viên y tế theo dõi cân nặng, huyết áp, đường huyết, mắt, đậm độ xương và sự phát triển của trẻ.
3.1.2. Thuốc dãn phế quản đồng vận beta tác dụng ngắn và dài hạn
Thuốc dãn phế quản đồng vận beta tác dụng ngắn và dài hạn giúp điều trị suyễn bằng cách dãn cơ trong đường thở, làm mở rộng đường thở. Cho thêm một đồng vận beta tác dụng dài hạn (LABA) kết hợp với corticosteroid hít có thể cải thiện việc kiểm soát suyễn nặng. Thuốc dãn phế quản đồng vận beta tác dụng ngắn và dài hạn được dùng dưới dạng phun sương hoặc dạng hít.
3.1.3. Theophylline
Theophylline cũng làm dãn cơ đường thở. Chưa có nghiên cứu nào được tiến hành để thử nghiệm xem theophylline có hữu hiệu ở người suyễn nặng hay không. Tuy nhiên, ở bệnh nhân suyễn trung bình, theophylline cải thiện kiểm soát suyễn khi sử dụng cùng với corticosteroid hít.
3.1.4. Thuốc biến đổi leukotriene
Leukotriene là một nhóm phân tử trong cơ thể gây co thắt đường thở, tăng sản xuất chất nhày, phù nề và viêm trong phổi. Liệu pháp này tác động bằng cách ngăn chận hoạt động của những phân tử leukotriene. Nó có thể cải thiện chức năng phổi của một số người suyễn khi sử dụng kèm với corticosteroid hít, nhưng công dụng của nó trong suyễn nặng không rõ.
3.1.5. Đối vận muscarinic (anticholinergic) tác dụng dài hạn
Liệu pháp này ngăn chận các tác dụng của thụ thể muscarinic. Thụ thể này khi bị kích thích có thể làm co cơ trơn trong phổi người bệnh suyễn. Ipratropium bromide ức chế thụ thể muscarinic là một thuốc được sử dụng để điều trị suyễn. Nó được dùng dưới dạng phun sương và làm giảm các triệu chứng của người suyễn nặng. Tiotropium bromide là một đối vận muscarinic tác dụng dài hạn, đã được báo cáo cải thiện chức năng phổi và triệu chứng của người bệnh suyễn nặng, vốn đang sử dụng corticosteroid hít liều trung bình đến cao, kèm theo hoặc không kèm đồng vận beta tác dụng dài hạn.
3.2. Những phương pháp đặc thù đối với suyễn nặng
Hướng dẫn ERS/ATS đưa ra ba phương pháp khác nhau, có thể sử dụng một cách đặc thù để điều trị suyễn nặng.
3.2.1. Sử dụng các đặc điểm lâm sàng và sinh học để hướng dẫn điều trị
Đếm số lượng bạch cầu ái toan tìm thấy trong đàm có thể được sử dụng để cho biết suyễn nặng nên được điều trị như thế nào. Hướng dẫn đề nghị sử dụng con số này như một chỉ dấu điều trị, nhưng chỉ khi được lấy ở một trung tâm kinh nghiệm trong việc sử dụng kỹ thuật này và được sử dụng cùng với những kết quả cận lâm sàng khác như chức năng phổi.
Oxid nitric là một phân tử khí do cơ thể sản xuất khi cơ thể có phản ứng viêm. Do đó, một số người bệnh suyễn có nồng độ oxid nitric cao hơn người không suyễn. Vai trò của nó trong suyễn nặng chưa được chứng minh; do đó, hướng dẫn này đề nghị không nên sử dụng oxic nitric để hướng dẫn điều trị vì nó là một thử nghiệm đắt tiền và không hữu hiệu trong suyễn nặng.
3.2.2. Các liệu pháp đặc hiệu
Hướng dẫn đưa ra năm khuyến cáo liên quan đến các liệu pháp đặc hiệu, được đề nghị để điều trị suyễn nặng:
a. Omalizumab là một thuốc có thể làm giảm phản ứng với dị nguyên, vốn gây ra suyễn dị ứng nặng. Hướng dẫn đề nghị người suyễn dị ứng nặng thử sử dụng omalizumab trong một thời gian. Nếu bệnh nhân không thấy lợi ích sau 4 tháng, nó có lẽ không hữu ích cho họ.
b. Methotrexate là một thuốc được sử dụng để điều trị một số tình trạng viêm quá mức và một số loại ung thư. Hướng dẫn đề nghị không nên sử dụng nó đối với người suyễn nặng do những tác dụng phụ tiềm tàng và cần được theo dõi điều trị. Nếu methotrexate được cần đến để giảm liều corticosteroid uống, nên được sử dụng tại những trung tâm chuyên khoa và chỉ được dùng ở những bệnh nhân cần uống corticosteroid hàng ngày.
c. Macrolides là một loại kháng sinh có thể hữu dụng đặc biệt trong nhiễm trùng phổi và lồng ngực. Hướng dẫn đề nghị không sử dụng kháng sinh macrolide ở người lớn và trẻ em suyễn nặng, do khả năng phát sinh kháng thuốc.
d. Các thuốc chống nấm được sử dụng để điều trị bất kỳ loại nhiễm nấm nào trong cơ thể. Hướng dẫn đề nghị sử dụng thuốc chống nấm đối với người trưởng thành suyễn nặng, bị nhiễm nấm aspergillus khí quản - phổi dị ứng (allergic bronchopulmonary aspergillosis - ABPA). Không nên sử dụng thuốc chống nấm để điều trị suyễn nặng ở người trưởng thành và trẻ em không mắc ABPA.
e. Tái tạo phế quản bằng nhiệt (bronchial thermoplasty) là một thủ thuật làm giảm số lượng cơ bao quanh đường thở trong phổi. Thủ thuật này đưa một sợi dây nhỏ qua máy nội soi khí quản vào trong phổi đến khi chạm vào đường thở. Sóng âm được sử dụng để làm nóng sợi dây, nhiệt phân hủy các cơ xung quanh đường thở, khiến đường thở khó co thắt hơn. Tái tạo phế quản bằng nhiệt có thể được sử dụng để điều trị người trưởng thành suyễn nặng, nhưng hướng dẫn khuyến cáo rằng nó chỉ được tiến hành như là một phần của một chương trình có đăng ký độc lập hoặc một nghiên cứu lâm sàng bởi vì đây là một kiểu điều trị mới.
3.3. Những liệu pháp thử nghiệm dựa trên phân tử
Một dạng liệu pháp mới dành cho suyễn nặng đang hình thành. Đó là liệu pháp thử nghiệm dựa trên phân tử, có mục tiêu là những phân tử đặc thù trong cơ thể. Thay vì cố gắng làm giảm các triệu chứng suyễn, như các loại thuốc hiện có, liệu pháp dựa trên phân tử ngăn chận các phân tử gây bệnh xuất hiện ở nơi đầu tiên bằng cách ngăn chận những phân tử chịu trách nhiệm. Liệu pháp dựa trên phân tử đầu tiên được chấp thuận đối với suyễn là liệu pháp kháng IgE, ngăn chận immunoglobulin E, nguyên nhân gốc của viêm trong suyễn dị ứng. Liệu pháp này có ở dạng thuốc Omalizumab đã nói trên.
Các liệu pháp dựa trên phân tử khác đang được thẩm tra và các chuyên gia hy vọng rằng trong tương lai, các liệu pháp này sẽ giúp cải thiện kết quả của người suyễn nặng.
4. Nghiên cứu tương lai
Hướng dẫn ERS/ATS là hướng dẫn chất lượng cao đầu tiên trong việc định nghĩa, đánh giá và điều trị suyễn nặng. Trong năm 2014, khái niệm kiểu hình (phenotype) của suyễn nặng vẫn đang ở giai đoạn đầu tiên, nghiên cứu hiện nay và tương lai nên tập trung vào việc định nghĩa tốt hơn các loại kiểu hình khác nhau để cá nhân hóa phương pháp điều trị. Các nghiên cứu bổ sung sẽ giúp việc cá nhân hóa thuốc men dựa vào đặc thù của bệnh dễ dàng hơn. Khi bác sĩ cá nhân hóa được việc điều trị suyễn nặng, người mắc bệnh có thể kỳ vọng vào một kết quả tốt hơn và cải thiện được các triệu chứng của suyễn nặng.
Nên Xem: bệnh hen
Xem chi tiết ...

Khi bé bị ho



>> Xem thêm các thảo luận cùng chủ đề: viêm phế quản

Ho là phản xạ có lợi để bảo vệ đường thở được thông thoáng, giúp trẻ hít thở dễ dàng. Vì vậy, các bậc cha mẹ không nên quá lo lắng và tìm đủ mọi cách để kìm hãm phản xạ có lợi này. Bên cạnh đó, không phải mức độ ho nhiều ít của trẻ lúc nào cũng song hành với mức độ nặng của bệnh. Thật vậy, trẻ có thể ho rất nhiều khi bị viêm hô hấp trên nhưng thường đây không phải là các trường hợp bệnh nặng. Trái lại, khi bị viêm phổi - một thể bệnh nặng thật sự - trẻ lại thường ít ho hơn. Tuy nhiên, các bậc cha mẹ thường không tránh khỏi lo lắng khi trẻ ho nhiều hay ho kéo dài. Và thật sự những trường hợp này cũng cần được thăm khám cẩn thận để xác định nguyên nhân và điều trị hiệu quả. 



Khi trẻ ho, cha mẹ nên chú ý điều gì?

Vì ho là phản xạ có lợi nên các bậc cha mẹ không nên quá lo lắng và tìm đủ mọi cách để kìm hãm phản xạ có lợi này.

Cần cho trẻ uống nhiều nước - một việc tưởng chừng đơn giản nhưng mang lại hiệu qủa rất lớn. Uống nước nhiều sẽ giúp trẻ dịu họng (nhờ vậy sẽ giảm ho) và đây cũng là một biện pháp giúp loãng đàm rất hiệu quả.

Có thể cho trẻ sử dụng một số thảo dược hay bài thuốc trị ho dân gian an toàn: tần dầy lá, tắc (quất) chưng đường, mật ong, gừng, nước trà ấm - loãng,...

Chỉ nên sử dụng thuốc ho khi trẻ ho quá nhiều làm trẻ khó chịu hay gây ra hậu quả xấu: trẻ đau ngực, mất ngũ, nôn ói, ...

Nếu cần sử dụng thuốc ho cần lưu ý như sau:

- Chỉ nên dùng thuốc ho phù hợp với lứa tuổi và phù hợp với tính chất ho của trẻ.

- Không nên tự ý cho trẻ dùng các loại thuốc ho dành cho người lớn do tác dụng phụ, độc tính có thể có. Thật vậy, một số loại thuốc ho mạnh, hiệu quả dùng cho người lớn có chứa dẫn xuất á phiện có thể làm trẻ nhỏ ngộ độc thậm chí tử vong.

- Khi trẻ ho có đàm không nên dùng các loại thuốc ức chế ho (thường chứa antihistamine hay dextromethorphan) mà nên dùng các thuốc giúp long đàm, giúp ho hiệu quả.

- Các loại thuốc ho chứa antihistamine (chlorpheniramine, dexchlorpheniramine, alimemazine, ...) chỉ nên dùng khi trẻ ho khan và đúng chỉ định theo lứa tuổi.

Những trường hợp cần phải đưa bé đi khám ngay tại bệnh viện

Cần đưa đến bệnh viện khám ngay nếu trẻ có một trong những vấn đề sau:

- Trẻ bỏ bú - bú kém hoặc không uống được

- Trẻ ngũ li bì, khó đánh thức

- Trẻ co giật

- Trẻ khó thở: trẻ thở nhanh hơn bình thường, thở co lõm lồng ngực (phần dưới lồng ngực lõm vào khi trẻ hít vào thay vì nở ra như bình thường)

- Trẻ thở có tiếng rít

Những trường hợp cũng cần phải đưa bé đi bác sĩ khám 

- Ho dữ dội xuất hiện một cách đột ngột

- Ho kèm sốt cao

- Ho khạc đàm đặc, màu xanh - vàng, có mùi hôi

- Ho ra máu

- Trẻ còn ho nhiều, không giảm sau 7 ngày chăm sóc

- Ho kéo dài trên 10-14 ngày

- Ho kèm sụt cân, đổ mồ hôi về chiều 

- Trẻ nhỏ hơn 3 tháng tuổi
>> Xem thêm các thảo luận cùng chủ đề:  benh hen


BS Trần Anh Tuấn

Trưởng khoa Hô hấp - BV Nhi đồng 1 TP.HCM

Xem chi tiết ...